mleft
mright

Bệnh trĩ: khái niệm, nguyên nhân, triệu chứng và phân loại và điều trị

Cập nhật: 23/8/2020 | 3:44:07 PM

“Thập nhân cửu trĩ” - phổ biến là vậy nhưng thực tế rất nhiều người bệnh âm thầm chịu đựng căn bệnh “khó nói” này. Với các giải đáp từ các bác sĩ tại phòng khám Trường Xuân Đường dưới đây, bạn hiểu rõ các nguyên nhân, triệu chứng của bệnh trĩ và đặc biệt giúp bạn nhận ra rằng chữa trĩ hiện đại không “kinh khủng” như trong tưởng tượng.

1. Định nghĩa

Trĩ là một hệ thống đám rối tĩnh mạch sinh lý bình thường nằm ở vùng hậu môn trực tràng. Do một nguyên nhân cơ hội nào đấy làm cho hệ thống tĩnh mạch trĩ sa dãn không hồi phục, khi đó gọi là bệnh trĩ.

2. Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ

Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:

- Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.

- Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.

- Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.

- Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ  là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…

- U bướu hậu môn trực tràng và vùng xung quanh: như ung thư  trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về  tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

3. Triệu chứng lâm sàng

Có 2 triệu chứng chính đưa bệnh nhân đi khám bệnh là chảy máu và sa búi trĩ.

- Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Đây là một trong những lý do đưa bệnh nhân đến khám. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi đại tiện hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi đại tiện, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.

- Sa búi trĩ: thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi đại tiện có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi đại tiện nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.

- Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi đại tiện, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.

4. Phân loại trĩ

Căn cứ vào vị trí giải phẫu và tính chất của búi trĩ ta chia trĩ ra làm 3 loại ;  trĩ nội, trĩ ngoại và trĩ hỗn hợ

Trĩ ngoại : Trĩ ngoại là những búi trĩ mà vị trí gốc của nó nằm ở phía dưới đường lược.

- Trĩ nội : Trĩ nội là những búi trĩ mà vị trí gốc của nó nằm trên đường lược.

- Trĩ hỗn hợp : Trĩ hỗn hợp là những búi trĩ bao gồm cả trĩ nội và trĩ ngoại. Do hệ thống dây chằng Park bị đứt hoàn toàn, khi đó có sự thông thương giữa trĩ nội và trĩ ngoại va không phân biệt được đâu là trĩ nội, đâu là trĩ ngoại.

5. Phân độ trĩ

Phân độ trĩ chỉ áp dụng cho trĩ nội, không phân độ cho trĩ ngoại, khi trĩ hỗn hợp sa giãn toàn bộ gọi là sa trĩ vòng.

+ Trĩ nội độ 1 : Bệnh nhân đi đại tiện ra máu, búi trĩ còn nằm trong hậu môn.

+ Trĩ nội độ 2 : Búi trĩ sa ra ngoài sau khi đại tiện, nhưng tự co lên được.

+ Trĩ nội độ 3 : Búi trĩ sa ra ngoài sau khi đại tiện, nhưng không tự co lên được, phải dùng tay đẩy lên.

+ Trĩ nội độ 4 : Búi trĩ liên tục sa ra ngoài.

6. Điều trị bệnh trĩ

6.1 Nguyên tắc điều trị :

Ưu tiên điều trị bằng các phương pháp bảo tồn, chỉ khi không thể điều trị bảo tồn được nữa, hoăc trong trường hợp trĩ có biến chứng, hoặc có kèm theo với các bệnh khác thì mới nên chỉ định phẫu thuật. Thông thường người bệnh đến khám và điều trị khi trĩ gây những rối loạn ảnh hưởng đến sinh hoạt và năng suất lao động của người bệnh.

6.2 Các phương pháp điều trị cụ thể

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ:

- Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày.

- Điều chỉnh thói quen ăn uống: Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà. Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu. Uống nước đầy đủ. Ăn nhiều chất xơ.

- Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…

- Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ … 

Điều trị nội khoa: 

- Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước lạnh 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.

- Thuốc uống : gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.

- Thuốc tại chỗ :  gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.  

Phẫu thuật:

Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng. 

- Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay. 

-Trĩ nội:

- Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng nhiệt.

- Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.

- Độ 3: thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.

- Độ 4: cắt trĩ.

- Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau đó mới mổ cắt trĩ.

  • Thông tin liên hệ
    Số 9 & 10 Ngõ 72 Đường Dương Khuê, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà nội
  • Hotline tư vấn và đặt lịch lịch khám: 024 3978 5666
Tác giả: Lê ĐứcNguồn: Trường Xuân Đường
  • Sản phẩm mới
  • GỬI CÂU HỎI TƯ VẤN
  • Tiêu điểm tuần qua
  • Follow us on
Thiết kế 2020 © Phòng chẩn trị y học cổ truyền Trường Xuân Đường
Tổng đài tư vấn (24/7): 024 3978 5666