mleft
mright

Bệnh viêm da cơ địa

Cập nhật: 23/8/2020 | 4:57:14 PM

Viêm da cơ địa là một chứng viêm da, ngứa mãn tính. Bệnh lý này có thể đi kèm với các bệnh cơ địa khác như hen suyễn, sốt cỏ khô hay viêm mũi dị ứng... Các triệu chứng của viêm da cơ địa thường khởi phát rất sớm, ngay từ tuổi sơ sinh, có thể tiếp tục đến lúc trưởng thành hoặc cũng có thể xuất hiện bất cứ thời điểm nào trong đời.

1. Đại cương

Bệnh viêm da cơ địa (Atopic Dermatitis-AD) trước đây gọi là bệnh chàm thể tạng, eczema, sẩn ngứa Besnier, Liken đơn dạng mạn tính…. là bệnh lý biểu hiện cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính tái phát. Đa số trường hợp bệnh bắt đầu ở tuổi ấu thơ. Triệu chứng điển hình của bệnh là các thương tổn da khô kèm theo ngứa. Do ngứa gãi nhiều mà da bị dày, bệnh nhân càng ngứa và gãi gây nên vòng bệnh lý “ngứa-gãi” làm cho bệnh nặng hơn và có nguy cơ bị bội nhiễm vi trùng. Bệnh có yếu tố di truyền, gia đình và hay xuất hiện ở những người có bệnh dị ứng khác như hen, viêm mũi dị ứng. Có tới 35% trẻ viêm da cơ địa có biểu hiện hen trong cuộc đời. Chẩn đoán bệnh không khó khăn, dựa trên các triệu chứng lâm sàng, nồng độ IgE  trong máu thường tăng cao.

2. Dịch tễ học

- Tỷ lệ hiện mắc: Hiện nay, chưa có nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc viêm da cơ địa ở Việt Nam. Theo một số báo cáo ở các nước khác, tỷ lệ khoảng 7-20% [1, 2, 3, 4]. Theo báo cáo của phòng khám Viện Da liễu quốc gia, có khi viêm da cơ địa chiếm khoảng 20% số bệnh nhân đến khám tại phòng khám [5].

- Tuổi phát bệnh:  thường vào hai tháng đầu sau sinh, có tới 60% trẻ viêm da cơ địa phát bệnh trong năm đầu, 30% trong 5 năm đầu và chỉ có 10% phát bệnh từ 6-20 tuổi. Rất hiếm bệnh nhân phát bệnh khi trưởng thành.

- Về giới không khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ, có một vài báo cáo nam mắc nhiều hơn nữ.

- Yếu tố di truyền, gia đình cho thấy 60% người bị viêm da cơ địa có con cũng bị bệnh này. Nếu cả bố mẹ đều bị viêm da cơ địa thì có tới 80% con bị bệnh.

- Các yếu tố làm bệnh khởi phát và nặng lên bao gồm: các dị nguyên trong không khí như  các chất thải của rệp nhà, len dạ... Ngoại độc tố của tụ cầu trùng vàng (Staphylococus aureus) đóng vai trò siêu kháng nguyên kích thích hoạt hóa T limphô và đại thực bào. Dị ứng nguyên nội sinh (endogenous antigens): trong huyết thanh bệnh nhân có kháng thể IgE có thể kích thích IgE hoặc T limphô đáp ứng viêm. Thức ăn: một số thức ăn cũng có thể làm vượng bệnh như trứng, sữa, lạc, đậu tương, cá, bột mỳ…
Ngoài ra, giảm chức năng của hàng rào bảo vệ của da cùng với giảm lớp ceramic trên bề mặt da làm cho da dễ bị mất nước gây khô da. Mùa hay bị bệnh thường vào mùa thu đông, nhẹ vào mùa hè. Đồ len dạ của trẻ, của bố mẹ và thậm chí đồ này của chó mèo, đồ thảm hoặc đệm giường cũng làm cho bệnh nặng lên.

3. Lâm sàng và cận lâm sàng

3.1. Cơ năng

Khô da, ngứa và gãi tạo thành vòng xoắn bệnh lý: ngứa-gãi-ban đỏ-ngứa... 

Các triệu chứng khác: viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc mắt, ngứa họng, hen. Các triệu chứng xảy ra theo mùa hoặc khi tiếp xúc với dị nguyên.

3.2. Tổn thương da

- Giai đoạn cấp tính: Biểu hiện bệnh là đám da đỏ ranh giới không rõ, các sẩn và đám sẩn, mụn nước tiết dịch, không có vẩy da. Da bị phù nề, chảy dịch, đóng vảy tiết. Các vết xước do gãi tạo vết chợt, bội nhiễm tụ cầu tạo các mụn mủ và vẩy tiết vàng. Bệnh thường khư trú ở trán, má, cằm, nặng hơn có thể lan ra tay, thân mình. Tổn thương da thường đối xứng hai bên.

- Biểu hiện bán cấp với các triệu chứng nhẹ hơn, da không phù nề, tiết dịch.

- Giai đoạn mạn tính da dày thâm, ranh giới rõ, liken hoá, các vết nứt đau; đây là hậu quả của việc bệnh nhân ngứa gãi nhiều. Thương tổn hay gặp ở các nếp gấp lớn, lòng bàn tay, bàn chân, các ngón, cổ, gáy, cổ tay, cẳng chân.

Các biểu hiện bệnh lý như chứng vẽ nổi (dermographism), bệnh vẩy cá thông thường, dày sừng nang lông…có thể gặp trên bệnh nhân viêm da cơ địa.

Vị trí hay gặp: mặt, trán, mặt gấp các chi, gáy, mi mắt, cổ tay, mu tay, mu chân, trường hợp nặng có thể lan toàn thân.

3.3. Cận lâm sàng

- Tăng IgE trong máu

- Nuôi cấy vi khuẩn

- Nuôi cấy vi rus.

4. Phân loại các thời kì bệnh theo lứa tuổi

4.1. Thời kì nhũ nhi (dưới 2 tuổi)

Da khô, bong vẩy ở hai má, da ửng đỏ khi lạnh. Vùng da quanh mũi hoặc quanh miệng cũng có thể bị ảnh hưởng. Trẻ thường khó chịu, quấy khóc do ngứa là khó ngủ ảnh hưởng đến trẻ và bố mẹ.

4.2. Thời kì trẻ em (2-12 tuổi)

Đặc trưng là viêm da vùng duỗi: khuỷu, cổ tay, cổ chân, cổ với vòng xoắn  ngứa-gãi. Tổn thương bắt đầu bằng  sẩn sau tập trung thành mảng, gãi nhiều dẫn đến liken hóa. Bệnh thường lui trước 30 tuổi, một số trở thành mạn tính tái phát khi thay đổi thời tiết.

4.3. Thời kì trưởng thành (sau 12 tuổi)

Bệnh khởi phát lúc dậy thì, ở người lớn có thể không có tiền sử AD. Viêm da khu trú kèm liken hóa là dạng thường gặp. Một số vùng đặc trưng như vùng nếp gấp, quanh mắt, viêm da tay, liken vùng hậu môn, sinh dục.

5. Tiến triển

Không điều trị bệnh tiến triển trong nhiều tháng, nhiều năm. Khoảng gần 50% bệnh khỏi khi ở tuổi thiếu niên, nhưng cũng nhiều trường hợp bệnh tồn tại lâu trong nhiều năm cho đến tuổi trưởng thành. Nhiều bệnh nhân bị hen hoặc các bệnh dị ứng khác.

6. Chẩn đoán

Hiện nay có một số tiêu chuẩn chẩn đoán viêm da cơ địa được đưa ra. Sau đây là tiêu chuẩn của Hanifin và Rajka (1980). Để chẩn đoán AD cần có ít nhất 3 tiêu chuẩn chính và ít nhất 3 tiêu chuẩn phụ.

6.1. Bốn tiêu chuẩn chính:

1. Ngứa (Itching).

2. Viêm da mạn tính và tái phát (Chronic or chronically relapsing dermatitis).

3. Hình thái và vị trí thương tổn điển hình (Typical distribution and morphology of AD rash).

- Trẻ em: Chàm khu trú ở mặt, vùng duỗi.

- Trẻ lớn và người lớn: Dày da, Liken vùng nếp gấp.

4. Tiền sử cá nhân hay gia đình có bệnh cơ địa dị ứng (Personal or family history of  atopic diseases) như hen, viêm mũi dị ứng, viêm da cơ địa.

6.2. Các tiêu chuẩn phụ:

1. Khô da (Dry skin).

2. Viêm môi (cheilitis).

3. Đục thủy tinh thể ( Anterior subcapsular cataract).

4. Viêm kết mạc mắt và kích thích ở mắt tái phát.

5. Mặt: Đỏ, tái.

6. Dị ứng thức ăn (Food intolerance).

7. Chàm ở bàn tay (Hand eczema).

8. IgE tăng (Elevated IgE levels).

9. Phản ứng da tức thì týp 1 dương tính (Immediate skin test type 1 reactivity).

10. Dễ bị nhiễm trùng da và hay tái phát.

11. Ngứa khi ra mồ hôi (Itching on sweating).

12. Vẩy phấn trắng (Pityriasis alba).

13. Chứng vẽ nổi (Dermographism).

14. Giác mạc hình chóp (Keratoconus).

15. Các thương tổn khác giống dày sừng nang lông (Other like Keratosis Pilaris),

16. Tuổi phát bệnh sớm

17. Chàm núm vú

18. Nếp dưới mắt Dennie- Morgan

19. Quầng thâm quanh mắt

7. Chẩn đoán phân biệt

- Viêm da tiếp xúc kích ứng

- Viêm da tiếp xúc dị ứng

- Viêm da đầu

- Vảy nến

- Nấm da 

8. Điều trị bằng y học hiện đại

- Tư vấn cho người bệnh tránh chà xát, không gãi là một việc rất quan trọng. Tránh nhiễm trùng thứ phát: herpes simplex, tụ cầu.

- Sử dụng các chế phẩm chống ngứa tại chỗ và toàn thân

Bôi kem dưỡng ẩm rất cần thiết vừa có tác dụng chống khô da vừa có tác dụng tránh ngứa, hạn chế tái phát. Kem dưỡng ẩm phải được sử dụng hàng ngày và dùng lâu dài sau khi triệu chứng đã được cải thiện. Loại trừ và tránh các chất gây dị ứng như  đề cập ở trên. Tư vấn cho bố mẹ bệnh nhân không dùng đồ len dạ trực tiếp vào da của trẻ, bố mẹ và những người chăm sóc trẻ cũng cần tránh dùng đồ len dạ khi tiếp xúc với trẻ.

Phác đồ điều trị một bệnh nhân viêm da cơ địa:

- Chống khô da bằng các thuốc dưỡng ẩm.

- Điều trị bằng bôi corticosteroid trong thời gian ngắn, sau đó duy trì bôi tacrolimus + dưỡng ẩm thời gian dài để tránh tái phát bệnh.

- Chống nhiễm tụ cầu bằng thuốc kháng sinh bôi hoặc uống.

- Kháng histamin chống ngứa.

  • Thông tin liên hệ
    Số 9 & 10 Ngõ 72 Đường Dương Khuê, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà nội
  • Hotline tư vấn và đặt lịch lịch khám: 024 3978 5666
Tác giả: Lê ĐứcNguồn: Trường Xuân Đường
  • Sản phẩm mới
  • GỬI CÂU HỎI TƯ VẤN
  • Tiêu điểm tuần qua
  • Follow us on
Thiết kế 2020 © Phòng chẩn trị y học cổ truyền Trường Xuân Đường
Tổng đài tư vấn (24/7): 024 3978 5666