mleft
mright

Sỏi đường tiết niệu: Khái niệm và điều trị theo y học hiện đại

Cập nhật: 17/8/2020 | 3:30:59 PM

Sỏi tiết niệu là căn bệnh phổ biến đối với người Việt, nhưng không phải ai cũng hiểu hết về căn bệnh này. Sỏi tiết niệu là gì? Phát hiện và điều trị bệnh như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

1. Đại cương

Sỏi đường tiết niệu bao gồm sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và sỏi niệu đạo, là bệnh thường gặp và hay tái phát do sự kết thạch của một số thành phần trong nước tiểu ở đường tiết niệu trong những điều kiện lí hóa nhất định. Sỏi gây tắc đường tiết niệu, gây nhiễm khuẩn và suy thận, gây nguy hại cho sức khỏe và tính mạng người bệnh.

Phần lớn sỏi niệu quản là do sỏi thận rơi xuống (80%), phần còn lại thường được sinh ra do niệu quản dị dạng. Phần lớn sỏi từ thận rơi xuống niệu quản thường rơi xuống bàng quang và ra ngoài (khoảng 80%). Số còn lại thường dừng ở đoạn niệu quản bị hẹp như đoạn niệu quản bắt chéo động mạch chậu, niệu quản sát bàng quang. Đối với sỏi niệu quản kích thước lớn, trên 1cm hoặc xù xì có thể bị dừng lại ở bất kì đoạn nào của niệu quả và gây tắc một phần hoặc hoàn toàn niệu quản, trong khi di chuyển sỏi gây nên các tổn thương cho niệu quản. Một khi sỏi làm tắc niệu quản thì có thể gây biến chứng nhanh và nặng đến thận nhất so với các sỏi tiết niệu khác.

Sỏi bàng quang thường gặp ở nam nhiều hơn nữ do chướng ngại ở cổ bàng quang hay niệu đạo.

Theo Johnson (1979), sau trên 10 năm có 50% bệnh nhân nam và 30% bệnh nhân nữ có hiện tượng tái phát, đặc biệt khi có tiền sử bệnh sỏi trong gia đình và bị bệnh khi còn rất trẻ. Chế độ phòng bệnh nghiêm túc sẽ hạn chế tái phát sỏi.

Sỏi đường tiết niệu

2. Điều trị sỏi tiết niệu bằng y học hiện đại

2.1. Điều trị nội khoa

Bao gồm các biện pháp phòng bệnh và sử dụng các thuốc để tránh tái phát

- Uống nước đủ đảm bảo bài tiết 1,5 lít nước tiểu hàng ngày.

- Chống nhiễm khuẩn, đặc biệt trường hợp dị tật bẩm sinh đường niệu, hoặc bàng quang thần kinh ở trẻ nhỏ.

- Khi có cơn đau: giảm đau, chống co thắt niệu quản (atropine, papaverin)

- Tổ chức cuộc sống lành mạnh, có thời gian vận động để tăng cường chuyển hóa, tăng bài tiết nước tiểu tránh ứ đọng.

- Để tránh tái phát sỏi cần điều chỉnh chế độ ăn uống và sử dụng một số thuốc riêng biệt:

+ Sỏi calxi: không nên ăn nhiều thức ăn mặn chứa nhiều protein và oxalate. Các thuốc lợi niệu hydrocholoro thiazide có tác dụng hạn chế bài tiết calxi trong trường hợp cường calxi niệu không rõ nguyên nhân.

+ Đối với sỏi amoni magie phosphate cần điều chỉnh pH nước tiểu, tránh kiềm. Sử dụng các kháng sinh có tác dụng đối với trực khuẩn gram âm (quinolone, aminosid)

+ Đối với sỏi acid uric: hạn chế thức ăn chứa nhiều purin và protein, có thể uống allopurinol (thuốc ức chế enzyme xanthinoxydase  là enzym có vai trò chuyển tiền chất hypoxanthin và xanthin thành acid uric nên làm giảm nồng độ acid uric máu, vì vậy hạn chế bài tiết acid uric qua nước tiểu).

+ Đối với sỏi cystin: tăng cường lợi niệu, uống 2-3 lít nước mỗi ngày, điều chỉnh pH nước tiểu xấp xỉ 7. Có thể uống D-penicillamin.

Thuốc điều trị sỏi

- Sỏi niệu quản chỉ điều trị nội khoa khi sỏi nhỏ đường kính dưới 4mm, sỏi nhẵn, chức năng hình thể thận tương đối bình thường, niệu quản bình thường vì nếu sỏi làm tắc niệu quản thì có thể gây biến chứng nhanh và nặng đến thận nhất so với các sỏi tiết niệu khác.

2.2. Điều trị ngoại khoa

Trên thực tế lâm sàng, người ta chia đường tiết niệu thành hai khu vực chủ yếu:

Đường tiết niệu trên bao gồm: đài bể thận, 1/3 trên niệu quản

Đường tiết niệu dưới: 1/3 dưới niệu quản, bàng quang và niệu đạo.

Sỏi ở 1/3 giữa niệu quản có thể đẩy sỏi lên đài bể thận hoặc lấy ra ngoài qua ống soi niệu quản.

2.2.1. Điều trị sỏi đường tiết niệu trên

- Tán sỏi ngoài cơ thể: sử dụng sóng xung động áp lực cao trung bình 800-1000 bares tập trung vào một tiêu điểm làm tan sỏi từ xa, làm vỡ hoặc làm vụn sỏi thành bụi nhỏ, không can thiệp phẫu thuật, sau đó sỏi sẽ được bài tiết theo đường tự nhiên ra ngoài. Sau khi tán sỏi bệnh nhân có thể đái ra máu nhẹ, cần cho bệnh nhân uống nhiều nước 1-2 ngày sau tán sỏi.

 Đối với sỏi có đường kính lớn hơn 2cm, có thể phải tán 2-3 lần.

Sỏi quá lớn, sỏi san hô phương pháp này ít kết quả.

Đối với sỏi quá rắn (sỏi cystin, sỏi acid uric) không có kết quả.

- Lấy sỏi thận qua da: có thể lấy được hầu hết các loại sỏi kể cả sỏi rắn, sỏi san hô. Tiến hành lấy sỏi qua ống soi thận mềm và các kẹp sỏi thận. Đây là một thủ thuật đòi hỏi sự thành thạo vì có thể gây biến chứng lớn như chảy máu, nhiễm khuẩn, thủng đại tràng, thủng màng phổi…

- Phẫu thuật: được chỉ định trong các trường hợp sau

 + Sỏi nhiễm khuẩn gây ứ nước, ứ mủ thận:

- Mổ lấy sỏi kết hợp dẫn lưu thận khi chức năng thận còn tốt hoặc bị giảm một phần.

- Mổ cắt thận khi thận bị hủy hoại hết chức năng.

+ Sỏi trên thận hoặc niệu quản dị dạng: cần đánh giá tình trạng dị dạng bệnh lí để có chỉ định cụ thể.

+ Sỏi trên bệnh nhân bị các bệnh lí toàn thân: tang huyết áp, bệnh lí về máu đặc biệt bệnh chảy máu..

+ Xử trí các tai biến hoặc trong trường hợp không lấy được sỏi qua da hoặc tán sỏi ngoài cơ thể. 

2.2.2. Điều trị sỏi đường tiết niệu dưới

- Lấy sỏi qua ống soi niệu quản: sử dụng ống soi cứng hoặc mềm đưa qua niệu đạo lên niệu quản rồi qua đó lấy sỏi ra ngoài. Có thể dùng kẹp để gắp sỏi hoặc luồn sỏi vào rọ Dormia kéo ra ngoài. Nếu sỏi quá to phải phá vỡ sỏi nhỏ bằng sóng xung động, siêu âm hoặc laser rồi gắp sỏi ra.

- Tán sỏi

+ Tán sỏi cơ học bằng máy tán sỏi cơ học hoặc bóp tay: chủ yếu áp dụng cho sỏi bàng quang khi sỏi không quá lớn 4-5 cm.

+ Tán sỏi bằng sóng xung động thủy điện (hydroelectrique). Máy tán sỏi urat I dùng các điện cực đặt trực tiếp vào sỏi, gây sóng xung động làm vỡ sỏi thành mảnh nhỏ và lấy ra ngoài.

+ Tán sỏi bằng sóng siêu âm, laser, làm vỡ sỏi nhỏ và lấy ra ngoài. Đối với sỏi niệu đạo thường đẩy sỏi lên bàng quang và dùng các phương pháp tán sỏi làm sỏi vỡ nhỏ và lấy ra ngoài.

- Phẫu thuật: chỉ định cho các trường hợp

+ Sỏi nhiễm khuẩn gây nhiễm khuẩn đường niệu điều trị không kết quả.

+ Sỏi gây biến chứng ứ nước, ứ mủ thận, ứ tắc đường tiểu, chảy máu.

+ Sỏi trên bệnh nhân bị hẹp đường niệu dưới không đặt được máy như hẹp niệu đạo, xơ cứng cổ bàng quang, hẹp niệu quản..

 + Sỏi trên bệnh nhân có bệnh lí đường niệu dưới như phì đại tuyến tiền liệt, u bàng quang, túi thừa bàng quang.

Điều trị sỏi

3. Phòng bệnh:

Chủ yếu nhằm hạn chế các yếu tố nguy cơ gây sỏi. Trước hết khuyến khích người bệnh nên uống nhiều nước để lượng nước tiểu mỗi ngày được ít nhất 1,5lít, như vậy nước tiểu luôn ở trạng thái dưới bão hoà tránh được nguy cơ sinh sỏi. Tránh nhiễm khuẩn đường tiết niệu nhất là đối với nữ giới. Phát hiện sớm và giải quyết những nguyên nhân ứ đọng do dị tật bẩm sinh, hoặc mắc phải do các bệnh khác gây ra ở trẻ em và người lớn.

  • Thông tin liên hệ
    Số 9 & 10 Ngõ 72 Đường Dương Khuê, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà nội
  • Hotline tư vấn và đặt lịch lịch khám: 024 3978 5666
Tác giả: Lê ĐứcNguồn: Trường Xuân Đường
  • Sản phẩm mới
  • GỬI CÂU HỎI TƯ VẤN
  • Tiêu điểm tuần qua
  • Follow us on
Thiết kế 2020 © Phòng chẩn trị y học cổ truyền Trường Xuân Đường
Tổng đài tư vấn (24/7): 024 3978 5666